Địa chỉ: Hộ Đáp Lục Ngạn Bắc Giang
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở trường mầm non Hộ Đáp

Sáng kiến "Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở trường mầm non Hộ Đáp"

PHẦN I

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài

Sức khỏe là một yếu tố không thể thiếu của con người. Để thế hệ trẻ được khỏe mạnh, thông minh, sáng tạo, có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc nuôi dạy trẻ là yêu cầu rất lớn. Trong những năm gần đây, hoạt động chăm sóc giáo dục dinh dưỡng, bảo vệ sức khỏe cho trẻ trong trường Mầm non không ngừng phát triển để đảm bảo công tác phòng chống suy dinh dưỡng được phát huy theo chiều hướng tích cực, nâng cao chất lượng chăm sóc, phòng chống suy dinh dưỡng, tăng sức đề kháng đặc biệt là trong thời điểm dịch bệnh covid-19 hết sức phức tạp.

Thực tế hiện nay trẻ em Việt Nam ở những vùng khó khăn tỉ lệ suy dinh dưỡng còn tương đối cao đó chính là nỗi băn khoăn của toàn xã hội, các cấp lãnh đạo cũng như các nhà trường. Muốn phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ được tốt không phải đợi khi trẻ lớn mà chúng ta phải phòng chống khi trẻ còn trong trứng, trong thời kỳ bào thai đến khi sinh ra và lớn lên. Trong thực tế hiện nay do điều kiện đời sống của nhân dân một số vùng miền còn khó khăn nên việc chăm sóc giáo dục trẻ còn thiếu thốn, kiến thức nuôi dạy trẻ chưa đồng đều nên việc đầu tư và tổ chức bữa ăn cho trẻ cũng như chăm sóc trẻ ở vùng sâu vùng xa còn nhiều hạn chế do đó ảnh hưởng ít nhiều đến việc xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn cho trẻ ở trường mầm non. Đó cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của trẻ.

Vì vậy, việc nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ trong các trường mầm non nói chung và trường mầm non Hộ Đáp nói riêng, là vô cùng quan trọng. Thực hiện nhiệm vụ trọng tâm trong năm học 2021-2022 của nhà trường là nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ và giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ trong trường mầm non, bản thân tôi đảm nhận công tác quản lý chỉ đạo công tác bán trú của nhà trường. Vậy tôi phải làm thế nào để nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ trong nhà trường? Đó là vấn đề tôi luôn băn khoăn, trăn trở và tôi đã tìm tòi, nghiên cứu các biện pháp để làm sao nâng cao được chất lượng bữa ăn cho trẻ và giảm được tỷ lệ suy dinh dưỡng. Vì vậy tôi chọn đề tài Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở trường mầm non Hộ Đáp” nhằm giúp thực hiện ngày càng tốt hơn trong công tác tổ chức bán trú của nhà trường, giúp trẻ phát triển cân đối, toàn diện. Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng - giáo dục của nhà trường ngày một hiệu quả hơn.

 

2. Mục đích nghiên cứu.

+ Đánh giá thực trạng về chất lượng bữa ăn cũng như công tác vệ sinh an toàn thực phẩm của nhà trường để đảm bảo bữa ăn cho trẻ.

+ Tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ tại trường Mầm non Hộ Đáp:

- Làm tốt công tác quản lý, chỉ đạo

- Xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn đảm bảo nhu cầu năng lượng cho trẻ

- Vệ sinh ATTP, cải tiến, sáng tạo trong cách chế biến món ăn

- Bồi dưỡng nhân viên tổ nuôi dưỡng

- Quản lý chăm sóc sức khỏe phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ

- Tuyên truyền phối hợp nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.

- Trẻ ăn bán trú tại Trường Mầm Non Hộ Đáp

- Đối tượng nghiên cứu “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở trường mầm non Hộ Đáp”

4. Giả thuyết khoa học.

Qua việc nắm bắt thực tế hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại Trường Mầm non Hộ Đáp, có thể tìm ra được nguyên nhân của thực trạng ấy. Từ đó đưa ra một số biện pháp cơ bản để nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy sinh dưỡng cho trẻ, đảm bảo chăm sóc bữa ăn cho trẻ được tốt hơn, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng sẽ giảm.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tầm quan trọng của việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ăn Bán trú tại trường.

- Vai trò của công tác chăm sóc nuôi dưỡng đối với việc phát triển thể lực, sức khỏe cho trẻ.

- Thực trạng của vấn đề quản lý công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở trường.

- Đề xuất các biện pháp thực hiện để nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy sinh dưỡng cho trẻ tại trường Mầm non Hộ Đáp.

6. Phạm vi nghiên cứu

- Trẻ ăn bán trú tại Trường Mầm Non Hộ Đáp

- Thời gian: Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022

7. Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp trực quan, quan sát, trao đổi trực tiếp qua thực tiễn.

- Phương pháp, biện pháp kiểm tra đánh giá chất lượng thực phẩm, khẩu phần ăn hàng ngày.

- Phương pháp đánh giá sức khỏe qua biểu đồ tăng trưởng của từng giai đoạn và khám sức khỏe định kỳ hàng năm.

8. Cấu trúc đề tài.

Phần I. Đặt vấn đề

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Khác thể và đối tượng nghiên cứu

4. Giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Phạm vi nghiên cứu

7. Phương pháp nghiên cứu

8. Cấu trúc đề tài

Phần II. Nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Thưc trạng vấn đề nghiên cứu

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác Bán trú tại trường Mầm non Hộ Đáp.

Phần III. Kết luận và kiến nghị

1. Kết luận

2. Kiến nghị

 

PHẦN II

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

I. Cơ sở lý luận

1. Cơ sở khoa học

 Như chúng ta đã biết sức khỏe là vốn quý của con người. Ăn uống là cơ sở tạo cho con người có một thể lực tốt. Ăn uống theo nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể, đảm bảo đủ về lượng và chất thì cơ thể mới phát triển mọt cách toàn diện. Dinh dưỡng là nhu cầu sức khỏe của mỗi người, trẻ em cần dinh dưỡng để phát triển thể lực, trí tuệ, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì và phát huy sự sống để làm việc, cống hiến cho xã hội. Nếu trẻ không được nuôi dưỡng tốt sẽ chậm lớn, còi cọc, chậm phát triển về mọi mặt. Ngược lại, nếu trẻ được tốt sẽ mau lớn, khỏe mạnh phát triển tốt về mọi mặt xứng đáng là chủ nhân tương lại của đất nước.

Nhờ sự phát triển của dinh dưỡng học mà người ta đã biết trong thức ăn có chứa tất cả các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể đó là: Chất đạm, chất béo, chất sơ, vitamin và muối khoáng… nếu dư thừa hoặc thiếu hụt các chất dinh dưỡng này trong cơ thể thì sẽ gây ra nhiều bệnh tật hoặc có thể dẫn tới tử vong nhất là đối với trẻ nhỏ. Tốc độ phát triển thể lực, trí tuệ và tình cảm cùng các mối quan hệ xã hội rất nhanh, nhanh đến mức mà người ta cho rằng sự thành công của chúng ta quyết định sự thành đạt của đứa trẻ trong tương lai. Nhờ áp dụng dinh dưỡng vào cuộc sống sức khỏe mà khoa học đã khám phá ra tầm quan trọng của dinh dưỡng trong đời sống sức khỏe con người. Do đó mà chế độ dinh dưỡng không hợp lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ, việc đảm bảo chế độ ăn hàng ngày cho trẻ được an toàn, vệ sinh, dinh dưỡng hợp lý cân đối các chất là rất quan trọng và cần thiết trong các bữa ăn của trẻ. Để chế biến được những món ăn phong phú, thơm ngon, hấp dẫn, đạt tiêu chuẩn về vệ sinh dinh dưỡng cho trẻ đòi hỏi cô nuôi phải luôn tìm tòi, học hỏi, khám phá ra những món ăn ngon, mới lạ, hấp dẫn và phù hợp với trẻ để chế biến cho trẻ ăn tại trường. Phải tuyên truyền và phối kết hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh về công tác chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng trẻ.

2. Cơ sở thực tiễn

Việc duy trì công tác bán trú và nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ nhằm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ mầm non là việc làm cần thường xuyên và liên tục đã trải qua nhiều năm thực hiện. Thế nhưng ở mỗi địa phương, mỗi trường thì việc nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho các cháu có sự khác nhau. Đối với trường mầm non Hộ Đáp thì công tác này luôn được quan tâm chú trọng tuy nhiên kết quả vẫn chưa cao. 

Vì vậy là người cán bộ quản lý trường mầm non thì việc chỉ đạo thực hiện tốt công tác bán trú, nâng cao chất lượng bữa ăn, phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ là nhiệm vụ hết sức cần thiết, không chỉ riêng cán bộ quản lý mà còn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của giáo viên, nhân viên cấp dưỡng  đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. 

 

 

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Đặc điểm tình hình

- Trường mầm non Hộ Đáp là một xã đặc biệt khó khăn của huyện Lục Ngạn.

- Nhà trường có 5 điểm trường, với tổng số trẻ: 294, tổng số cô nuôi: 07.

- Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ cho công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tương đối đầy đủ đáp ứng theo yêu cầu của ngành học.

2. Thuận lợi

- Được sự chỉ đạo sâu sát của phòng giáo dục và đào tạo huyện Lục Ngạn và ban giám hiệu nhà trường, cũng như sự quan tâm của các cấp.

- Nhà trường có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, trang bị đầy đủ biểu bảng, trang thiết bị đồ dùng phục vụ cho công tác chăm sóc bán trú.

- Nhà trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trẻ, nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc được phân công.

- Nhà trường thực hiện ký kết hợp đồng thực phẩm với các nhà cung cấp thực phẩm uy tín, chất lượng, có giấy chứng nhận và kiến thức an toàn thực phẩm.

- Các bậc phụ huynh luôn nhiệt tình ủng hộ, phối kết hợp cùng nhà trường trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.   

3. Khó khăn

- Trường có điểm lẻ cách xa khu trung tâm nên việc đi lại giao nhận thực phẩm, chia thực phẩm về các bếp cũng gặp nhiều khó khăn.

- Đa số con em là người dân tộc, kinh tế khó khăn, mức thu nhập thấp, mức đóng tiền ăn còn thấp, nên có phần ảnh hưởng tới xây dựng thực đơn và khẩu phần ăn của trẻ.

- Nhân viên nuôi dưỡng trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc chế biến món ăn, chưa có bằng cấp chuyên môn nấu ăn .

- Tỷ lệ trẻ duy dinh dưỡng thấp còi còn cao.

- Một số phụ huynh học sinh kiến thức về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ còn nhiều hạn chế cũng ảnh hưởng đến sức khỏe và nề nếp của trẻ.

4. Kết quả khảo sát đầu năm

Tháng 9/2021 tôi đã kết hợp với giáo viên các lớp và nhân viên y tế của nhà trường kiểm tra bữa ăn, sức khoẻ, cân nặng của trẻ, kết quả như sau:        

Tổng số trẻ trong toàn trường thời điểm tháng 9/2021 là: 294 trẻ

Đầu năm tháng 9/2021

Số trẻ

Tỷ lệ %

Trẻ ăn hết xuất, thích ăn cơm ở trường

196/294

66,6%

Cân nặng bình thường

269/294

91,5%

SDD vừa

25/294

8,5%

SDD nặng

0

0

Chiều cao BT

274/294

93,2%

Thấp còi độ 1

20/294

6,8%

Thấp còi độ 2

0

0

  * Đánh giá

Qua khảo sát điều tra đầu năm kết quả cho thấy tỉ lệ trẻ ăn hết xuất còn thấp và tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, suy dinh dưỡng thể thấp còi còn cao. Vì vậy tôi đã tìm ra những biện pháp nhằm tạo cho trẻ thích ăn và giúp trẻ ăn ngon miệng giảm tỉ lệ trẻ mắc các bệnh: Suy dinh dưỡng thấp còi, thiếu Vitamin…

CHƯƠNG III

MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

1. Biện pháp 1: Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo.

Căn cứ kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2021 - 2022 của Phòng  GD&ĐT Lục Ngạn, thực hiện công văn số1449/SGDĐT-GDMN ngày 18/11/2020 của Sở GD&ĐT Bắc Giang về việc nâng cao chất lượng tổ chức và quản lý công tác bán trú trong các cơ sở giáo dục mầm non. Nhà trường xây dựng kế hoạch chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ năm học 2021-2022 bám sát các nhiệm vụ chung, và nhiệm vụ cụ thể của cấp trên, xây dựng các tiêu chí phấn đấu theo chỉ tiêu được giao phù hợp với thực tế công tác chăm sóc, nuôi dưỡng của nhà trường. Từ đó, đề ra các giải pháp thực hiện cụ thể, triển khai các nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ  theo từng tuần, tháng, có đánh giá kết quả công việc sau khi thực hiện để điều chỉnh và rút kinh nghiệm cho các tháng tiếp theo.

Làm đề nghị trung tâm y tế huyện Lục Ngạn, trung tâm y tế xã Hộ Đáp thường xuyên về kiểm tra, thẩm định các điều kiện an toàn thực phẩm của nhà trường, ký bản cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở bếp ăn bán trú.

Ngay từ đầu năm học tôi đã tham mưu với hiệu trưởng nhà trường thành lập Ban chỉ đạo công tác bán trú, để phân công nhiệm vụ và quy định trách nhiệm cụ thể cho các thành viên. Ban chỉ đạo công tác bán trú và thành viên trong ban hàng ngày có nhiệm vụ:

- Chịu trách nhiệm về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại bếp ăn nhà trường và chất lượng bữa ăn về định lượng, dưỡng chất đúng với giá trị mức ăn.

- Kiểm tra số lượng thực phẩm theo tính ăn, tính khẩu phần ăn cho trẻ.

- Kiểm tra, giám sát chất lượng, nguồn gốc thực phẩm nấu ăn cho trẻ.

- Kiểm tra, giám sát chất lượng thực phẩm trong quá trình tiếp nhận, bàn giao, sơ chế, chế biến thực phẩm, chia ăn cho trẻ hàng ngày tại trường

- Kiểm tra, giám sát công tác vệ sinh các khu sơ chế, chế biến;  sử dụng, bảo quản đồ dùng bán trú, hệ thống ga, điện, nước nhà bếp.

- Kiểm tra, giám sát công tác chia ăn theo đúng định lượng cho trẻ theo từng nhóm, lớp.

- Thực hiện ghi chép đầy đủ thông tin, số liệu vào sổ kiểm thực 3 bước theo qui định.

- Kết quả kiểm tra, giám sát được Ban chỉ đạo công tác bán trú công khai trước buổi họp định kỳ, khiển trách, kỷ luật nghiêm nếu có cán bộ, giáo viên, nhân viên bị vi phạm.

Phân công lãnh đạo nhà trường trực bán trú tại trường, cùng với nhân viên y tế hàng ngày kiểm tra chất lượng thực phẩm trước khi giao cho nhà bếp chế biến, trực trưa trong các giờ ăn, giờ ngủ của trẻ để kịp thời xử lý những sự việc bất thường xảy ra.

Bộ phận nuôi dưỡng lập đầy đủ các loại hồ sơ sổ sách bán trú theo quy định. Hồ sơ bán trú bán trú được theo dõi, ghi chép, cập nhật hàng ngày về số lượng, nguồn gốc, xuất xứ của các thực phẩm mua vào, lưu mẫu thực phẩm sống, thức ăn đã chế biến, theo dõi việc cho trẻ ăn đúng thực đơn.

Hàng tháng Ban chỉ đạo bán trú họp do Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng phụ trách bán trú chủ trì nhằm đánh giá kết quả thực hiện công tác chỉ đạo bán trú trong tháng, trao đổi những vấn đề phát sinh, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ khâu tiếp nhận thực phẩm, sơ chế, chế biến, chia ăn, tổ chức cho trẻ ăn, ngủ, vệ sinh … từ đó rút kinh nghiệm, đề ra nhiệm vụ công tác tháng tiếp theo để tổ chức tốt các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ.

Chỉ đạo, giám sát việc thực hiện các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, chế độ kiểm thực 3 bước, lưu mẫu thức ăn theo quy định, thực hiện vệ sinh phòng chống dịch bệnh theo mùa, phun thuốc khử trùng định kỳ 2 lần/năm.

2. Biện pháp 2: Xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn đảm bảo nhu cầu năng lượng hàng ngày, phù hợp với mức tiền ăn của trẻ.

Để xây dựng một chế độ ăn đảm bảo, đáp ứng được nhu cầu năng lượng, cân đối các chất dinh dưỡng với mức tiền ăn thực tế tại trường là 15.000đ/trẻ/ngày tôi đã thực hiện như sau:

Xây dựng thực đơn hàng ngày, theo tuần, theo tháng, theo mùa các món ăn của thực đơn đa dạng phong phú, thay đổi, sự kết hợp giữa các loại thực phẩm để tạo ra các món ăn khác nhau. Thực đơn cân đối, hợp lý, đa dạng nhiều loại thực phẩm để cung cấp nhiều chất dinh dưỡng khác nhau cho cơ thể, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Phối hợp nhiều loại thực phẩm trong bữa ăn của trẻ, trung bình thực đơn 1 ngày của trẻ, trong mỗi bữa ăn phải có đủ 4 nhóm thực phẩm cung cấp các chất dinh dưỡng là nhóm chất bột đường, nhóm chất béo, nhóm chất đạm, nhóm vitamin và chất khoáng tạo ra các bữa ăn hợp lý cho trẻ.

- Xây dựng khẩu phần ăn, lựa chọn thực phẩm đảm bảo nhu cầu khuyến nghị về năng lượng, cân đối các chất cung cấp năng lượng protit, lipit, gluxit (P – L – G) theo nhu cầu khuyến nghị; cân đối thành phần các chất dinh dưỡng, vitamin và muối khoáng trong khẩu phần ăn (60% protein trở lên; Lipit: 70% lipit động vật, 30% lipit thực vật).

- Sử dụng muối hợp lý trong chế biến món ăn, không sử dụng thực phẩm đóng gói và chế biến sẵn. Muối là loại gia vị được sử dụng hàng ngày trong chế biến món ăn nhưng cơ thể chỉ cần một lượng rất ít, đối với trẻ mầm non nên sử dụng muối I ốt trong chế biến món ăn và chỉ nên sử dụng ít. Theo một số kết quả nghiên cứu, thực phẩm chế biến sẵn chứa nhiều chất phụ gia, không có lợi cho sức khỏe của trẻ, là một trong những nguyên nhân gây thừa cân, béo phì. Bánh kẹo có đường tinh chế, tạo cảm giác no giả là nguyên nhân gây biếng ăn ở trẻ. Mặt khác thực phẩm chế biến sẵn thường có giá thành cao. Chính vì vậy khi xây dựng thực đơn tôi loại bỏ hoàn toàn thực phẩm chế biến sẵn (mì tôm, xúc xích, bánh kẹo, giò, chả …) trong chế độ ăn của trẻ.

- Sử dụng nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, sẵn có tại địa phương cho bữa ăn hàng ngày của trẻ đảm bảo tươi, sạch, an toàn, tiết kiệm chi phí. Một tuần cho trẻ ăn 3 bữa cá, tôm, cua được đánh bắt trực tiếp tại địa phương đảm bảo cung cấp vào trường còn tươi sống. Hợp đồng rau sạch với cơ sở có uy tín, yêu cầu rau lấy tại địa phương để giảm giá thành, thu gom từ các gia đình, hộ nông dân có mô hình trồng rau sạch, huy động phụ huynh cung cấp thực phẩm sạch cho bữa ăn của trẻ.

 

 

THỰC ĐƠN THÁNG 03/2022

(Tuần lẻ)

Thời gian

Thứ 2

Thứ 3

Thứ 4

Thứ 5

Thứ 6

Bữa chính

 

- Cơm tẻ

- Thịt gà xáo gừng

- Canh xương hầm bí ngô

- Cơm tẻ,

- Trứng cút, thịt lợn kho tàu

- Canh rau mồng tơi nấu ngao.

- Cơm tẻ,

- Thịt lợn rim tôm

- Canh rau muống thịt băm

- Cơm tẻ,

- Cá thu rang ruốc.

- Canh bầu nấu tôm

- Cơm tẻ

- Thịt bò hầm cà rốt, khoai tây.

- Canh cải ngọt nấu thịt

Bữa phụ

- Mỳ chũ nấu thịt

- Cháo hầm tim cật

- Sữa đậu nành

- Bánh mỳ

- Chè đậu xanh

- Chuối

- Dưa đỏ

- Xôi hoa cau

(Thực đơn của trẻ được thay đổi thường xuyên)

3. Biện pháp 3: Vệ sinh ATTP, cải tiến, sáng tạo trong cách chế biến món ăn cho trẻ.

Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

* Kiểm soát nguyên liệu đầu vào

- Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thì việc kiểm soát nguồn nguyên liệu đầu vào là rất quan trọng. Vì vậy tôi đã tham mưu với Hiệu trưởng ký hợp đồng với các cơ sở có uy tín, khi ký hợp đồng tôi đã thống nhất với các nhà cung cấp thực phẩm, nhà trường chỉ tiếp nhận các thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, giao hàng đúng thời gian quy định (sau khi tính ăn xong nhà trường sẽ báo số lượng thực phẩm cần sử dụng trong ngày cho các nhà cung cấp) cách thức bổ sung thực phẩm thiếu hoặc thừa cho đảm bảo đủ thực phẩm.

- Đối với các thực phẩm bao gói yêu cầu nhà cung cấp cung cấp đầy đủ các loại giấy chứng nhận đảm bảo an toàn, vệ sinh thực phẩm, giấy xét nghiệm mẫu thực phẩm.

- Giao nhận thực phẩm: Trước khi nhận thực phẩm15 phút nhân viên nuôi dưỡng phải nắm được số trẻ ăn trong ngày, số lượng từng loại thực phẩm giao và nhận theo sổ giao nhận thực phẩm. Người nhận thực phẩm phải đủ các thành phần, cô nuôi, giáo viên trực tuần, nhân viên y tế, Hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng, kiểm tra, đánh giá chất lượng thực phẩm, nhận đủ và ghi rõ số lượng thực phẩm an toàn theo thực đơn và sổ giao nhận. Nếu phát hiện thực phẩm không đạt yêu cầu thông báo với bên giao để đổi thực phẩm đúng yêu cầu, kiên quyết không nhận hàng kém chất lượng. Sau khi nhận đủ số lượng thực phẩm, đảm bảo yêu cầu người giao thực phẩm và người nhận thực phẩm ký xác nhận vào sổ giao nhận thực phẩm dưới sự kiểm tra, giám sát của tổ kiểm thực về số lượng, chất lượng, định lượng thực phẩm/trẻ toàn trường và ghi chép đầy đủ thông tin vào sổ kiểm thực 3 bước.

*Kiểm soát quá trình chế biến, nấu ăn.

- Đảm bảo quy trình chế biến theo nguyên tắc 1 chiều: Nguyên liệu sau khi nhập được sơ chế nhặt, rửa, thái, xay ... chuyển vào bếp (nguyên liệu sạch) để chế biến, nấu thành các món ăn, thức ăn nấu chín được chuyển sang khu vực chia ăn và cuối cùng là vận chuyển lên các lớp. Tuyệt đối không di chuyển thực phẩm ngược chiều chế biến.

- Sơ chế thực phẩm: Khi có thực phẩm tươi, phải sơ chế và cho vào chế biến ngay, thực phẩm được sơ chế trên bàn, tránh để thực phẩm xuống đất hoặc sát đất. Lựa chọn phần ăn được, loại bỏ các vật lạ lẫn vào thực phẩm như: Sạn, xương, mảnh kim loại, thủy tinh, lông, tóc ... Rau phải rửa kỹ từ 3 lần trở lên, nếu lượng rau nhiều phải chia nhỏ ra rửa làm nhiều đợt, sau đó nên ngâm khoảng 30 phút với nước muối pha loãng rồi rửa lại một lần nữa. Đối với các loại quả phải rửa sạch, gọt vỏ trước khi sử dụng.

                                     

- Chế biến thực phẩm phù hợp với đặc điểm sinh lý và khả năng tiêu hóa của trẻ

+ Quá trình chế biến món ăn cho trẻ không sử dụng hóa chất, phụ gia thực phẩm nằm ngoài dạnh mục cho phép của Bộ y tế, chỉ dùng phẩm màu trong danh mục cho phép có nguồn gốc tự nhiên như: Gấc, bột nghệ, lá dứa ...

+ Dùng nước sạch, an toàn để chế biến thức ăn, đồ uống và rửa dụng cụ.

+ Đun nấu kỹ thức ăn vì khi đun kỹ thực phẩm, mọi phần của thực phẩm đều được nóng và nhiệt độ trung tâm 700C sẽ tiêu diệt hết các vi sinh vật có hại,

đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

+ Dầu mỡ phải được để trong dụng cụ có nắp đạy kín, tránh để dầu mỡ ở nơi có nhiệt độ cao, nhiều ánh sáng, dùng trong thời hạn nhất định, khi có mùi hôi hoặc khét phải bỏ ngay, không dùng lại dầu mỡ đã qua sử dụng. 

*Chia và giao thức ăn.

- Thức ăn sau khi nấu chín được chia cho từng lớp theo định lượng và từng xoong, xô inox được đạy nắp, vung trước khi chuyển lên lớp, nên chia và giao thức ăn lên lớp khi thức ăn còn ấm nóng, vừa nấu chín xong

- Đối với các thực phẩm không cần nấu chín như: Chuối, dưa hấu, cam, quýt, bánh mì …... và các loại quả khác thì cần chia và cho trẻ ăn ngay khi vừa bóc vỏ hay cắt ra.

- Không sử dụng thức ăn còn lại từ hôm trước cho trẻ ăn.

+ Chia ăn bằng dụng cụ chia, gắp thức ăn, không dùng tay trực tiếp chia thức ăn.

+ Dụng cụ đựng thức ăn phải có nắp đạy để tránh bụi bẩn khi mang về các nhóm lớp

 

Cải tiến, sáng tạo trong cách chế biến món ăn cho trẻ.

Tâm lý các trẻ đa số thích đẹp, thích được khen tôi đã chỉ đạo các cô nuôi  cải tiến cách chế biến như cắt tỉa những hình, cánh hoa từ cà rốt, khoai tây, su hào, bí đỏ…Nấu canh xương, thịt nhừ nhưng không nát, nước ngọt trong. Khi trẻ ăn thấy những cánh hoa, hình vuông, hình tròn… Trông rất ngộ nghĩnh, hòa với màu đỏ của cà rốt, vàng của khoai tây, trắng của su hào… trong bát canh, trẻ cho vào miệng tan biến, trẻ rất thích. Hay chế biến món ăn từ thịt lợn với trẻ thường phải băm xay để trẻ dễ ăn, chúng tôi đã viên, nặn hoặc kết hợp với các thực phẩm như rau, củ, hấp xào, thịt sốt cà chua với những màu sắc hấp dẫn kích thích trẻ hứng thú với món ăn.

  Hoặc khi trẻ ăn món ăn bánh bao để trẻ ăn ngon miệng tôi hướng dẫn các cô nuôi sưu tầm các khuôn hình để nặn ra những chiếc bánh bao có hình ngộ nghĩnh như hình những con vật, bông hoa…Hoặc các món ăn hoa quả tráng miệng cắt thành các hình, từ đó trẻ nhìn thấy trẻ rất hứng thú và thích ăn.

 

Ngoài ra có những món ăn rất nhiều trẻ không thích như món ăn chế biến từ tôm tôi đã hướng dẫn cô nuôi chế biến thịt lợn xay bao quanh con tôm thò cái đuôi trông ngộ nghĩnh và thường được thay đổi cách chế biến để trẻ ăn hết xuất.

 

  Từ cách cải tiến, sáng tạo khi chế biến món ăn cho trẻ tôi thấy các cháu của trường tôi rất hứng thú trong bữa ăn, ăn ngon miệng, hết xuất và và điều đặc biệt các cháu rất thích ăn cơm ở trường với lý do: “Vì ở trường các cô nuôi chế biến ngon hơn bố mẹ chế biến món ăn ở nhà”

  4. Biện pháp 4: Bồi dưỡng nhân viên tổ nuôi dưỡng

- Yêu cầu nhân viên cấp dưỡng học tập kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định và được cấp giấy chứng nhận đã tham dự tập huấn kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm do Trung tâm y tế huyện Lục Ngạn. Vào đầu năm học cử nhân viên cấp dưỡng tham gia lớp tập huấn kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm do Trung tâm y tế huyện Lục Ngạn tập huấn.

- Trước khi ký hợp đồng lao động yêu cầu nhân viên cấp dưỡng đi khám sức khỏe và có giấy chứng nhận đủ điều kiện sức khỏe theo quy định nhà trường mới tiến hành ký hợp đồng, sau khi ký hợp đồng nhân viên cấp dưỡng được khám sức khỏe định kỳ 2 lần/năm để đảm bảo đủ sức khỏe, không mắc các bệnh truyền nhiễm, bệnh ngoài da trong danh mục quy định của Bộ y tế, nếu trong quá trình làm việc phát hiện mắc bệnh hoặc chứng bệnh truyền nhiễm người mắc bệnh sẽ được tạm thời nghỉ việc hoặc chuyển sang làm việc khác tránh tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm cho đến khi bệnh được điều trị khỏi hẳn.

  - Bồi dưỡng về kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm, nắm rõ quy trình bếp một chiều, thực hành tốt các khâu từ giao, nhận thực phẩm, sơ chế, chế biến đến khâu chia ăn đảm bảo cả về số lượng và chất lượng....., nắm được khoảng cách giữa các bữa ăn trong ngày của trẻ, thực hiện ngiêm túc việc lưu, hủy mẫu thức ăn hàng ngày, phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh cá nhân, vệ sinh đồ dùng dụng cụ nhà bếp

  - Nhà trường tổ chức cho nhân viên cấp dưỡng sưu tầm, đăng ký chế biến món ăn mới qua tổ chức chuyên đề dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm, tổ chức thi đua chế biến về các món ăn, bữa phụ tại trường để chị em học tập kinh nghiệm lẫn nhau.

         - Qua các buổi sinh hoạt chuyên môn ở tổ cùng nhau trao đổi, thảo luận về cách chọn mua thực phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh môi trường nơi chế biến thực phẩm, rau củ, quả, kỹ thuật chế biến thực phẩm, cách bảo quản thực phẩm…., Qua các buổi sinh hoạt các đồng chí hiểu thêm rất nhiều về công việc, bữa ăn ngon, đẹp mắt, đảm bảo dinh dưỡng.

5. Biện pháp 5: Quản lý chăm sóc sức khỏe phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.

Quản lý và chăm sóc sức khỏe trẻ được thực hiện theo thông tư số 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT ngày 12 tháng 5 năm 2016 của Bộ y tế - Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về công tác y tế trường học.

Theo đó vào đầu năm học (tháng 9/2021) tôi chỉ đạo nhân viên y tế kết hợp với trung tâm y tế xã tiến hành cân đo, kiểm tra sức khỏe trẻ để đánh giá tình trạng ding dưỡng và và sức khỏe trẻ: đo chiều cao, cân nặng đối với trẻ dưới 36 tháng tuổi; đo chiều cao, cân nặng, huyết áp, nhịp tim, đối với trẻ mẫu giáo. Đo chiều cao, cân nặng, ghi biểu đồ tăng trưởng, theo dõi sự phát triển thể lực cho trẻ dưới 24 tháng tuổi mỗi tháng một lần và cho trẻ em từ 24 tháng tuổi đến 6 tuổi mỗi quý một lần; theo dõi chỉ số khối cơ thể (BMI) đối với trẻ 60 tháng tuổi trở lên 02 lần/năm học. Sau mỗi đợt cân đo công khai, thông báo tình hình sức khỏe trẻ cho cha mẹ. Từ đó có giải pháp thích hợp về dinh dưỡng đối với trẻ suy dinh dưỡng, thừa cân béo phì hoặc các trẻ có các vấn đề về sức khỏe khác, tư vấn cho cha mẹ trẻ về dinh dưỡng hợp lý và hoạt động thể lực đối với trẻ.

Phân công nhân viên y tế kết hợp với giáo viên nhóm lớp thường xuyên theo dõi sức khỏe học sinh, phát hiện giảm thị lực, cong vẹo cột sống, bệnh răng miệng, rối loạn sức khỏe tâm thần và các bệnh tật khác để xử trí, chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định và áp dụng chế độ học tập, rèn luyện phù hợp với tình trạng sức khỏe trẻ.

Phối hợp với Trung tâm y tế xã Hộ Đáp để tổ chức khám, điều trị theo các chuyên khoa cho trẻ 2 lần/ năm.

 

Thực hiện tốt việc hướng dẫn tổ chức bữa ăn cho trẻ bảo đảm dinh dưỡng hợp lý, đa dạng thực phẩm, phù hợp với đối tượng và lứa tuổi.

Phối hợp với Trạm y tế xã trong việc tổ chức các chiến dịch tiêm chủng, uống vắc xin phòng bệnh cho trẻ.

Lập và ghi chép vào sổ khám bệnh, sổ theo dõi sức khỏe học sinh, sổ theo dõi tổng hợp tình trạng sức khỏe học sinh.

Thường xuyên kiểm tra, giám sát các điều kiện học tập, vệ sinh trường lớp, an toàn thực phẩm, cung cấp nước uống, xà phòng rửa tay. Chủ động triển khai các biện pháp và chế độ vệ sinh phòng, chống dịch theo quy định của cơ quan y tế.

Tổ chức triển khai các chương trình y tế, phong trào vệ sinh phòng bệnh, tăng cường hoạt động thể lực, dinh dưỡng hợp lý, xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh cho trẻ.

6. Biện pháp 6: Thực hiện công tác tuyên truyền phối hợp nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.

Thông qua các hoạt động tuyên truyền, hình thức tuyên truyền phong phú giúp phụ huynh và cộng đồng thấy được tầm quan trọng của công tác bán trú, từ đó phụ huynh hiểu và kết hợp với nhà trường mua sắm, ủng hộ cơ sở vật chất bán trú, phối hợp với giáo viên nhóm lớp trong việc chăm sóc bữa ăn cho trẻ, thống nhất phương pháp giáo dục các thói quen, hành vi, kỹ năng tự phục trong ăn, ngủ cho trẻ ở nhà cũng như ở trường, biết cách chăm sóc con cái theo khoa học thể lực, trí tuệ của trẻ phát triển tốt, giúp gia đình đạt được ước mơ con cái khoẻ mạnh, thông minh, học giỏi.

 

Kết hợp với phụ huynh tổ chức các họat động thi gói bánh chưng nhân dịp tết nguyên đán, thăm quan chế biến món ăn tại nhà bếp, dự giờ ăn của trẻ. Phối hợp với Ban đại diện hội cha mẹ học sinh cử đại diện tham gia giám sát bếp ăn, giao nhận thực phẩm, sơ chế, chế biến, chia ăn…. cùng nhà nhà trường.

Phối hợp với Trạm y tế xã trong việc chăm sóc, sức khỏe ban đầu cho trẻ, tiêm chủng các loại vacxin theo lịch, sơ cứu, xử trí ban đầu những tai nạn thường gặp cho trẻ khi xảy ra trong nhà trường.

Tham mưu với Ủy ban nhân dân xã tu sửa cơ sở vật chất nhà trường vào đầu mỗi năm học, xây dựng, cải tạo, bổ sung các hạng mục công trình còn thiếu, đặc biệt là cơ sở vật chất nhà bếp, nhà lớp học để đảm bảo các điều kiện tổ chức bán trú cho trẻ tại trường.

Phối hợp với Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn để tập huấn, kiểm tra kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng trực tiếp tham gia công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, khám sức khỏe định kỳ cho cán bộ, giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng và trẻ.

* Kết quả của sáng kiến

Sau quá trình áp dụng sáng kiến tôi nhận thấy đem lại một số kết quả sau:

+ Đối với bản thân:

- Tham mưu tích cực với lãnh đạo nhà trường để mua sắm, bổ sung đầy đủ các trang thiết bị, đồ dùng phục vụ công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.

- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá chất lượng chế biến thức ăn cũng như công tác chăm sóc các cháu: vệ sinh cá nhân, giờ ăn, giờ ngủ.

- Chỉ đạo tốt công tác bồi dưỡng cho giáo viên, nắm bắt kịp thời các thông tin đổi mới nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng góp phần xây dựng môi trường chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ một các tốt nhất.

- Luôn lắng nghe ý kiến tâm sự của đồng nghiệp, tìm tòi, mạnh dạn đưa ra những biện pháp để nâng cao chất lượng chăm bữa ăn cho trẻ và phòng chống suy dinh dưỡng trẻ trong  nhà trường. 

+ Đối  với trẻ

Từ những kết quả nêu trên cho thấy trẻ ăn ngon miệng hơn, ăn hết xuất, hết khẩu phần, trẻ thích được ăn cơm ở trường hơn ở nhà. Trẻ có thói quen văn minh trong ăn uống, biết giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường thông qua các giờ học tích hợp, vui chơi. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng so với đầu năm đã giảm đi đáng kể, trẻ phát triển cân đối, hài hòa, hoạt bát, tích cực vào các hoạt động của lớp và các hoạt động hàng ngày.

Tổng số trẻ trong toàn trường thời điểm tháng 9/2021 là: 294 trẻ

Thời điểm tháng 4/2022 là: 308 trẻ

Đầu năm tháng 9/2021

Tỷ lệ %

Tháng 4/2022

Tỷ lệ %

Trẻ ăn hết xuất, ngon miệng, thích ăn cơm ở trường

196/294

66,6%

308/308

100%

Cân nặng bình thường

269/294

91,5%

300/308

97,7%

SDD vừa

25/294

8,5%

7/308

2,3%

SDD nặng

0

0

0

0

Chiều cao BT

274/294

93,2%

299/308

97,1%

Thấp còi độ 1

20/294

6,8%

9/308

2,9%

Thấp còi độ 2

0

0

0

0

  + Đối với các bậc cha mẹ học sinh

- Đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc chăm sóc bữa ăn cho trẻ; Quan tâm hơn đến việc chăm sóc bữa ăn của các cháu.

- Tích cực phối kết hợp với giáo viên, nhà trường trong việc cải thiện và nâng cao chất lượng bữa ăn của trẻ.

- Tích cực phối kết hợp với giáo viên, nhà trường luôn đồng tình ủng hộ về cả về vật chất lẫn tinh thần trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tưởng, phụ huynh có thêm niềm tin và động lực khi gửi con em đến trường.

+ Đối với nhà trường

- Với những biện pháp như đã nêu trên 100% CBGV, NV hiểu và nắm được tầm quan trọng của việc chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ ăn tại trong trường.

- Nhân viên nuôi dưỡng nắm chắc kiến thức về VSATTP, có nhiều hiểu biết về cách chế biến các món ăn đẹp, ngon, hấp dẫn, đảm bảo về dinh dưỡng.

- Nhà bếp đã được trung tâm y tế xã, huyện kiểm tra và công nhận đạt bếp đủ điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tuyệt đối không xảy ra ngộ độc thực phẩm trong nhà trường.

- Giáo viên thực hiện lồng ghép nội dung giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ vào trong tổ chức các hoạt động giáo dục hàng ngày thông qua dạy học trên lớp, mọi lúc mọi nơi…đạt hiệu quả cao.

- Ban giám hiệu nhà trường thực hiện tốt công tác quản lý chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ tại trường. Vì vậy mà năm học 2021 - 2022 số trẻ suy dinh dưỡng giảm đi đáng kể, trẻ thích ăn cơm ở lớp, ăn hết xuất và ăn ngon miệng.

- Đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng đã làm việc nhiệt tình với công việc theo tiêu chí bếp ăn 5 tốt của nhà trường đề ra từ đầu năm học.

+ Quản lý tốt + Tổ chức tốt + Vệ sinh tốt + Cải tiến nấu ăn tốt + Tiết kiệm tốt

- Từ những kết quả nêu trên cho thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng so với đầu năm đã giảm đi đáng kể, trẻ phát triển cân đối, hài hòa, hoạt bát, tích cực vào các hoạt động của lớp và các hoạt động hàng ngày.

 

PHẦN III

 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

Để trẻ luôn khỏe mạnh phát triển một cách toàn diện về đức, trí, thể, mĩ, tình cảm quan hệ xã hội thì việc chăm sóc giáo dục và nuôi dưỡng trẻ theo khoa học là hết sức quan trọng và cần thiết trong đó việc nuôi dưỡng trẻ theo khoa học đươck coi trọng, vì nó ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện của trẻ. Vì vậy mà việc tổ chức cho trẻ ăn bán trú tại trường là vô cùng cần thiết và bữa chính chiều cũng hết sức quan trọng không thể thiếu trong thực đơn hàng ngày của trẻ vì nó bổ sung nguồn dinh dưỡng và cung cấp thêm năng lượng cho trẻ trong ngày giúp trẻ có đủ dưỡng chất cần thiết cho mọi hoạt động và sự phát triển của trẻ, giúp giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng. Bởi vậy mà việc cải thiện chế biến nâng cao chất lượng bữa ăn chính cho trẻ là hết sức cần thiết.

Vấn đề được đặt ra trong sáng kiến này đó là việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, nhằm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ ở trong độ tuổi trẻ mầm non. Để đạt được điều đó chúng ta cần làm tốt các biện pháp nêu trên.

Thông qua sáng kiến tôi nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của công tác chăm sóc nuôi dưỡng và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ ở nhà trường cần được triển khai nghiêm túc và chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng kế hoạch và thực hiện đến từng lớp.

Cần làm tốt công tác tham mưu với các ban ngành đoàn thể chính quyền địa phương, nhất là hội cha mẹ học sinh đẻ cùng phối hợp chăm lo cho bữa ăn của trẻ đủ về lượng và chất mà vẫn đảm bảo VSATTP.

CBQL, giáo viên, nhân viên cần tích cực nghiên cứu tài liệu, tự học bồi dưỡng cho chính bản thân, có tinh thần trách nhiệm trong công việc chăm sóc trẻ.

Cần nâng cao nhận thức về trách nhiệm, tạo mọi điều kiện cho cán bộ, giáo viên nhất là đội ngũ cấp dưỡng được đi học bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng. đặc biệt là phải đảm bảo tốt vệ sinh an toàn thực phẩm, từ khâu hợp đồng mua thực phẩm, đến khâu tiếp phẩm, sơ chế, chế biến, bảo quản và tổ chức cho trẻ ăn.

 Làm tốt được công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ cũng là một trong những biện pháp tốt để huy động trẻ đến trường.

Để làm tốt được công tác này thì người quản lý cần phải thực hiện tốt coongt ác kiểm tra nội bộ trường học, trong đó chú trọng kiểm tra chế độ dinh dưỡng của trẻ.

Điều quan trọng nữa là cần phải có sự đoàn kết nhất trí, lòng nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong tập thể hội đồng sư phạm của nhà trường nói chung và chị em tổ cấp dưỡng nói riêng. Đây là điều kiện tiên quyết để quyết định sự thắng lợi nhiệm vụ năm học về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ

Với những biện pháp thực hiện như trên năm học 2021-2022 và những năm tiếp theo đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trường Mầm non Hộ Đáp sẽ luôn cố gắng hoàn thành tốt phương hướng nhiệm vụ của nhà trường đề ra, tạo mọi điều kiện tốt nhất để nâng cao chất lượng về mọi mặt cho trẻ, đặt biệt là công tác chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ sức khỏe cho trẻ ở trường.

2. Kiến nghị

  * Phòng giáo dục - Đào tạo

- Liên hệ với trung tâm y tế huyện tổ chức cho cán bộ giáo viên, nhân viên tham gia tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm, thường xuyên mở lớp tập huấn cho các cô nuôi cũng như giáo viên học hỏi thêm về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.

- Có kế hoạch tổ chức cho nhân viên nấu ăn được học tập chuyên ngành nấu ăn.

- Tổ chức cho các cô nuôi đi thăm quan học tập các đơn vị đã làm tốt công tác nuôi dưỡng trẻ

* Nhà trường

- Nhà trường tiếp tục tham mưu với các cấp đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác bán trú.

- Cần cung cấp thêm cho các nhà trường và các cô nuôi các tài liệu về cách chế biến các món ăn cho trẻ mầm non.

-Hết-

                                                                                                                            Tác giả: Hoàng Dược


Tác giả: Trường Mầm non Hộ Đáp
Tổng số điểm của bài viết là: 16 trong 4 đánh giá
Click để đánh giá bài viết