Địa chỉ: Hộ Đáp Lục Ngạn Bắc Giang
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Báo cáo kinh nghiệm về phát triển chuyên môn nghiệp vụ

Báo cáo kinh nghiệm về phát triển chuyên môn nghiệp vụ của bản thân và đồng nghiệp tại trường mầm non

BÁO CÁO KINH NGHIỆM

VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ CHO BẢN THÂN VÀ ĐỒNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG MẦM NON

I. Thuận lợi và khó khăn

1. Thuận lợi

Đội ngũ Ban giám hiệu (BGH) trẻ, năng động, vững vàng về chuyên môn, có năng lực quản lý. Cả ba đồng chí đều có trình độ đại học và là giáo viên giỏi các cấp đồng chí Hiệu trưởng đạt CSTĐ nhiều năm liền, nên chỉ đạo sát sao giáo viên về chuyên môn.

Tập thể cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường đoàn kết thống nhất, cùng quyết tâm phấn đấu xây dựng trường tiên tiến và trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia vào năm 2019. Nhà trường có đội ngũ cán bộ giáo viên giỏi làm nòng cốt, các đồng chí giáo viên tâm huyết với nghề, luôn yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Được sự quan tâm của Uỷ ban nhân huyện Lục Ngạn, sự chỉ đạo sát sao về chuyên môn của phòng GD& ĐT huyện Lục Ngạn, Sự quan tâm của Đảng uỷ- UBND các ban ngành đoàn thể xã Hộ Đáp tạo điều kiện giúp đỡ, động viên về tinh thần, vật chất… để nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình.

Các bậc phụ huynh có sự đồng thuận, có sự phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc thống nhất các biện pháp chăm sóc giáo dục trẻ.

2. Khó khăn

Đội ngũ giáo viên quá trẻ nên còn thiếu kinh nghiệm trong việc chăm sóc giáo dục. Một số giáo viên mới đang trong giai đoạn tập sự, một số còn là giáo viên hợp đồng, chưa nắm chắc phương pháp của bộ môn nên còn lúng túng trong việc tổ chức tiết học theo hình thức đổi mới, chư­a thu hút đư­ợc sự chú ý của trẻ vào giờ học. ..

Địa bàn thuộc xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Lục Ngạn, các khu lẻ cách xa khu trung tâm, đường giao thông đi lại đồi núi, vực sâu hiểm trở nên có nhiều ảnh hưởng đến việc giao lưu học hỏi kinh nghiệm giữa các giáo viên với nhau.

Từ những thuận lợi và khó khăn đó, tôi thấy rằng việc bồi  dưỡng “nâng cao chất lượng đội ngũ đối với đơn vị đặc biệt khó khăn” là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết. Đó chính là những biện pháp quan trọng  và  cần  thiết  nhất để nâng cao chất lượng nhà trường góp phần  xây dựng nhà trường ngày một phát triển đi lên đáp ứng yêu cầu của giáo dục mầm non trong thời kỳ mới.

 

THỰC TRẠNG

          1.1. Điểm mạnh

          * Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên:

            Công tác tổ chức quản lý của BGH trẻ, nhiệt tình. Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn có tính khả thi, sát thực tế. Công tác tổ chức triển khai, kiểm tra đánh giá sâu sát. Được sự tin tưởng của cán bộ, giáo viên và nhân viên nhà trường.

          Đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên: Nhiệt tình, có trách nhiệm, yêu nghề, gắn bó với nhà trường, mong muốn nhà trường phát triển, chất lượng chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm đa số đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục, trường đạt danh hiệu trường tiên tiến

Trong những năm qua đội ngũ CBGV, NV không ngừng được tăng lên về số lượng và chất lượng. Năm học 2018 – 2019 tổng số CBGV, NV: 30 đ/c trong đó CBQL: 3 đ/c; GV: 25 đ/c; NV: 2 đ/c (1 kế toán, 1 ytế). Trình độ đào tạo: ĐH: 19 đ/c;  CĐ: 7 đ/c; TC: 4 đ/c. Đảm bảo  yêu cầu về các hoạt động CSGD trẻ trong nhà trường.

* Công tác phát triển số lượng học sinh năm học 2018 – 2019

     Tổng số nhóm lớp: 14 nhóm lớp với 334 cháu. Trong đó:

+ Nhóm trẻ: 2 nhóm = 35 cháu/231= 15,1% so với trẻ trong độ tuổi

+ Mẫu giáo: 12 lớp = 299 cháu đạt 100% độ tuổi

Số trẻ trong độ tuổi phổ cập ra lớp:

      Trẻ 2 tuổi: 35/102 cháu đạt 34,2%

      Trẻ 3 tuổi : 119/119 cháu đạt 100%

 Trẻ 4 tuổi : 82/82 cháu đạt 100%

            Trẻ 5 tuổi : 102/102 cháu đạt 100%

* Chất lượng CSGC trẻ:

+ Nhà trẻ:  2 nhóm =  35 cháu

+ Mẫu giáo:  12 lớp = 299 cháu

- Nhà trường tổ chức 14/14 nhóm lớp ăn bán trú = 100%

Phấn đấu giảm tỷ lệ SDD xuống dưới 5%

Quản lý tốt việc tổ chức bữa ăn cho trẻ tại trường, trẻ được ăn đủ khẩu phần và thay đổi thực đơn theo mùa cho trẻ.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                      

 *Về thực hiện chương trình:

 Toàn trường thực hiện 14/14 nhóm lớp học chương trình GDMN đạt 100%. Mua sắm đầy đủ đồ dùng học tập theo chương trình bộ GD quy định.

Có 5 lớp 5 tuổi tách riêng; phấn đấu 100% trẻ đạt yêu cầu.

Xây dựng chương trình hoàn thành trong tháng 09.

Tham gia hội thi “Bé với Bác Hồ kính yêu” cấp cụm trường, cấp huyện.

Tiếp tục XD môi trường lấy trẻ làm trung tâm.

Chuẩn bị tốt các điều kiện cho 06 giáo viên thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện vào tháng 12/ 2018; Tổ chức Hội thi giáo viên dạy giỏi vòng thực hành vào tháng 3/2019 (cấp trường).

* Về cơ sở vật chất:

- Tổng số diện tích đơn vị đang quản lí: 8964 m2

          - Tổng số lớp: 14 lớp (Trong đó: kiên cố: 13, tạm 1).

          - Văn phòng: 54 m2

- Phòng HT: 25 m2

- Phòng PHT: 25m 2

- 1 công trình vệ sinh của giáo viên

- 4 công trình vệ sinh của học sinh

- 3 công trình nước sạch

- Số lò đốt rác: 1

- Bếp một chiều: 02 (Khu trung tâm và Héo B)

1.2. Điểm yếu:

          * Đội ngũ giáo viên, công nhân viên:

            Trình độ đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ của một số giáo viên không đồng đều, các chế độ chính sách cho GVMN vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện nên vẫn còn bất cập.

Nhà trường  thuộc xã vùng cao đặc biệt khó khăn, các khu lẻ cách xa khu trung tâm, đường giao thông đi lại gặp nhiều chắc chở nên việc giao lưu học hỏi kinh nghiệm giữa các giáo viên với nhau không thuận lợi.

            * Về học sinh

           Do đa số gia đình các em là người dân tộc, cả bố và mẹ làm nghề nông, nên kinh tế khó khăn không có điều kiện quan tâm đến việc học tập của các cháu.

            Tỉ lệ học sinh dân tộc nhiều, trình độ nhận thức của các em trong cùng một độ tuổi là không đồng đều.

           * Cơ sở vật chất:

  Số phòng học đó xuống cấp: 01 phòng khu Cái Cặn; 01 phòng học khu Đèo Trang;

Phòng chức năng:  Chưa có phòng ăn, phòng ngủ, phòng GDTC cho trẻ.

           Số công trình còn thiếu: 04 công trình vệ sinh chưa đạt chuẩn; các lò đốt rát ở khu lẻ; 01 nhà bảo vệ; 01 nhà xe GV.

MỘT SỐ KINH NGHIỆM THỰC HIỆN

1. Xây dựng nhà trường là một khối đoàn kết, thống nhất, tập thể sư phạm trong sạch vững mạnh

Tôi xác định đây là một yếu tố khá quan trọng, bởi có đoàn kết thống nhất mới tập trung được trí tuệ của toàn thể đội ngũ. Để đạt được điều này BGH phải thực hiện tốt nguyên tắc tập chung dân chủ, công khai kế hoạch, công khai tài chính, đảm bảo các chế độ chính sách, tiền lương, tiền thưởng cho giáo viên đầy đủ kịp thời. Quản lý đội ngũ dựa trên các văn bản chỉ đạo kết hợp hài hoà linh hoạt với tình hình thực tế của đơn vị để đạt kết quả cao nhất.

          2. Bồi dưỡng về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức nhà giáo gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”

 Công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có một ý nghĩa cực kỳ to lớn trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên về chính trị, đạo đức nhà giáo gắn với cuộc vận động “ Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Vai trò của người giáo viên với những phẩm chất đạo đức tốt cùng với kiến thức và năng lực chuyên môn vững vàng sẽ tạo được uy tín và khả năng thực hiện nhiệm vụ của người giáo viên mầm non.

 Cách tiến hành:

 Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền giáo dục tư tưởng cho đội ngũ cán bô giáo viên.

Tổ chức các buổi học tập các văn bản, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, tăng cường tủ sách pháp luật, khuyến khích giáo viên tham gia đọc, tìm hiểu vê pháp luật.

 Tổ chức đăng ký việc làm tốt theo gương Chủ Tịch Hồ Chí Minh.

          Tập trung xây dựng, giáo dục rèn luyện đội ngũ đảng viên của chi bộ có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực lãnh đạo có trình độ chuyên môn tốt, phát huy được tính tiền phong gương mẫu, đề cao trách nhiệm trên mọi cương vị. Tăng cường công tác bồi dưỡng quần chúng, đoàn viên ưu tú đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Tổ chức đánh giá xếp loại giáo viên hàng tháng, hàng kỳ, hàng năm về phẩm chất đạo đức và đánh giá xếp loại những việc làm tốt đã đăng ký.

Tổ chức cho giáo viên nghe báo cáo thời sự về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, giáo dục của nhà nước và địa phương.

3. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên

3.1. Tổ chức cho giáo viên học tập, giao lưu:

Nhà trường xây dựng kế hoạch cho đi học hàng năm để đạt chuẩn và nâng chuẩn cho giáo viên.

Thực hiện kế hoạch giao lưu cụm mầm non của phòng GD&ĐT Lục Ngạn. Ngoài ra còn thường xuyên tổ chức cho giáo viên đi thăm quan học hỏi kinh nghiệm các trường trong huyện, tỉnh và ngoài tỉnh.

3.2. Chỉ đạo xây dựng chương trình chăm sóc giáo dục trẻ: Yêu cầu soạn giảng theo phương pháp mới: Lấy trẻ làm trung tâm, phát huy tính cực của trẻ. Giáo viên thiết kế bài dạy theo hướng đổi mới phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. BGH kiểm tra và duyệt kế hoạch cho giáo viên. Giáo viên nòng cốt có trình độ chuyên môn tốt tiến hành trao đổi và rút kinh nghiệm thống nhất phương pháp.

Tổ chức thi giáo án sạch đẹp vào các đợt thi đua 20/11; 8/3…

3.3. Tiến hành thăm lớp dự giờ:  BGH, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn tích cực thăm lớp và dự giờ giáo viên. Giáo viên trong trường dự giờ chéo. Sau mỗi giờ dạy của giáo viên cần tổ chức rút kinh nghiệm chỉ ra ưu, nhược điểm cho từng cá nhân để phát huy mặt mạnh và khắc phục mặt yếu kém trong bài dạy.

3.4. Tổ chức tốt các buổi sinh hoạt chuyên môn 2 lần/ tháng: Tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt theo định kỳ, lựa chọn các nội dung bồi dưỡng giáo viên cho phù hợp, tập chung vào các nội dung còn yếu.

3.5. Tăng cường công tác tự học, tự bồi dưỡng: Mỗi cá nhân giáo viên tự xác định cho mình những nội dung tự học. Yếu ở nội dung nào cần học hỏi và bồi dưỡng nội dung đó. Nhà trường quy định mỗi giáo viên có một sổ tự bồi dưỡng. Cuối kỳ, cuối năm nhà trường kiểm tra đánh giá.

4. Bồi dưỡng giáo viên về ứng dụng công nghệ thông tin(CNTT)

CNTT được ứng dụng trong chăm sóc giáo dục trẻ với tư cách là một phương tiện tác động đến quá trình nhận thức của trẻ và từ đó hình thành giúp tư duy của trẻ phát triển.

CNTT được ứng dụng trong việc thiết kế bài dạy của giáo viên.

CNTT trong giảng dạy là phương tiện dạy học cung cấp những nội dung kiến thức đơn lẻ làm thay đổi hình thức tổ chức hoạt động giáo dục trẻ.

Tổ chức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường học tập nâng cao trình độ tin học.

* Đối với công tác chăm sóc giáo dục trẻ

Chỉ đạo 100% giáo viên thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào chăm sóc giáo dục trẻ: Soạn bài trên máy vi tính, khai thác mạng thường xuyên để cập nhật thông tin phục vụ cho chuyên môn. Trẻ được tiếp cận với CNTT.

5. Bồi dưỡng kỹ năng làm, sử dụng và bảo quản đồ dùng đồ chơi trang thiết bị dạy học.

         Làm đồ dùng đồ chơi phục vụ dạy và học là một trong những hoạt động nhằm nâng cao chuyên môn, tay nghề, phát huy khả năng sáng tạo của giáo viªn trong các trường mầm non. Môc ®Ých cña viÖc lµm ®å dïng ®å ch¬i lµ:

         Nhằm thực hiện tốt việc dạy học, phục vụ tích cực việc đổi mới phương pháp giảng dạy học do Bộ GD-ĐT đề xướng.

       Tránh giờ dạy không có đồ dùng trực quan, góp phần tạo nên sự thành công trong các hoạt động và tiết dạy, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

        Khuyến khích các đồng chí giáo viên tự làm những sản phẩm đồ dùng dạy học bằng những phế liệu, rác thải để tạo ra những đồ dùng có thể đưa vào bài dạy của mình nhằm tạo thêm sự phong phú cho giờ học.

Tổ chức cho CBGV đăng ký số lượng đồ dùng đồ chơi tự làm trong năm học (Thông qua kế hoạch cá nhân).

BGH chỉ đạo các tổ chuyên môn hàng tháng kiểm tra việc làm đồ dùng đồ chơi tại lớp, đồng thời phát động phong trào làm đồ dùng đồ chơi nhân các ngày lễ lớn như 8/3, 20/11....

Cuối mỗi năm học thực hiện nghiêm công tác kiểm kê tài sản, đồ dùng đồ chơi, TBDH của các lớp. Từ đó xây dựng kế hoạch mua sắm cho năm sau. Đồng thời việc bảo quản tài sản tốt của lớp là một tiêu chí đánh giá thi đua của giáo viên.

           Đánh giá công tác thi đua công bằng, động viên khen thưởng kịp thời những cá nhân làm tốt.

Tăng cường công tác kiểm tra giám sát thường xuyên. Sau mỗi kỳ học lồng việc đánh giá kết quả thực hiện làm đồ dùng đồ chơi với phong trào xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực.

Chỉ đạo giáo viên tham gia tốt các hội thi đồ dùng ĐC do nhà trường tổ chức.

6. Bồi dưỡng giáo viên qua các cuộc vận động, phong trào thi đua, các hoạt động ngoại khoá:

Có thể nói, biện pháp bồi dưỡng thông qua các phong trào thi đua, tổ chức các hội thi, hội giảng thường xuyên sẽ giúp giáo viên mạnh dạn, bình tĩnh tự tin khi lên lớp. Để đạt được thành tích đòi hỏi mỗi người phải trau dồi năng lực sư phạm, nghệ thuật lôi cuốn trẻ, phải chịu khó suy nghĩ tìm tòi, học hỏi đồng nghiệp, bạn bè…Từ đó trình độ chuyên môn và tay nghề của giáo viên được nâng lên. Phong trào thi đua gắn liền với các hội thi sẽ làm cho khí thế thi đua của trong nhà trường càng sôi nổi, có tác dụng tuyên truyền tới các bậc phụ huynh.

          Hàng năm trường tôi thường tổ chức các hội thi: Thi trang trí nhóm lớp, thi văn hoá văn nghệ. Hội giảng chào mừng ngày nhà giáo Việt nam, thi giáo viên giỏi cấp trường, thi làm đồ dùng dạy học….

Việc tổ chức các hội thi trong nhà trường có tác dụng thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của các giáo viên. Trong các hội thi, họ có điều kiện khẳng định mình trước tập thể. Song, bên cạnh đó việc tổ chức các hội thi cũng tạo được mối quan hệ thân ái, giúp đỡ nhau trong tập thể giáo viên nhà trường để cùng nhau tiến bộ.

Để tổ chức thành công các hội thi, xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng tháng, thông báo tới toàn thể giáo viên để nắm được nội dung, thời gian thi.

Tháng 9, 10: Thi trang trí nhóm lớp, làm đồ dùng đồ chơi

Tháng 11: Tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa

* Hội giảng chào mừng ngày nhà giáo Việt nam

* Thi ĐDĐC và triển lãm tranh của bé

* Tổ chức cho trẻ trải nghiệm “Làm tranh, bưu thiếp và múa hát mừng cô”

Tháng 3: Tổ chức sinh hoạt chuyên môn lần 3 kết hợp kỷ niện ngày 8/3 và tổ chức thi giáo viên giỏi cấp trường vòng thi thực hành

 Tháng 4: Tổ chức các Hội thi

 

Trong các đợt thi, giáo viên nhà trường luôn có sự chuẩn bị và nỗ lực phấn đấu để đạt kết quả cao nhất. Sau hội thi, trường tôi có tổng kết rút kinh nghiệm, khen thưởng các cá nhân có thành tích xuất sắc. Chính vì làm tốt vấn đề trên nên đã động viên tinh thần phấn đấu của chị em, nâng dần chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của nhà trường. Qua hội thi này, chúng tôi thấy chị em rất cố gắng và có nhiều cải tiến sáng tạo trong giảng dạy.

7. Tăng cường công tác kiểm tra nội bộ

Kiểm tra là một chức năng quan trọng, vừa là một biện pháp quản lý có hiệu quả. Kiểm tra việc thực hiện bồi dưỡng chuyên môn là trách nhiệm của cán bộ quản lý. Qua kiểm tra, cán bộ quản lý nắm được đầy đủ những thông tin cần thiết về tình hình thực hiện chuyên môn, đánh giá đúng phẩm chất năng lực của giáo viên, phát hiện đúng những lệch lạc, thiếu sót để kịp thời bổ sung, điều chỉnh và uốn nắn giáo viên nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động chuyên môn của giáo viên.

Vì vậy để công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đạt hiệu quả cao nhất, cán bộ quản lý không được phép buông lỏng công tác kiểm tra. Để công tác kiểm tra việc thực hiện bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đạt hiệu quả cao nhất, cán bộ quản lý cần đảm bảo:

Xác định rõ mục đích yêu cầu của từng đợt kiểm tra dựa trên yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của nhà trường của năm học.

Phải có kế hoạch cụ thể trên cơ sở kế hoạch kiểm tra cả năm, học kỳ, đi sâu vào kế hoạch từng đợt kiểm tra xác định rõ mục đích yêu cầu, nội dung, hình thức, phương pháp kiểm tra.

Làm tốt công tác tuyên truyền giúp cho giáo viên thông suốt việc kiểm tra, khuyến khích tinh thần tự giác, trung thực của giáo viên để giáo viên chuẩn bị mọi phương tiện và điều kiện tích cực góp phần thực hiện tốt cùng đợt kiểm tra đó.

BGH thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra nội bộ. Đánh giá, xếp loại giáo viên công bằng, dân chủ, công khai, thẳng thắn chỉ ra những mặt ưu nhược điểm của giáo viên, giúp giáo viên có hướng đi đúng.

8. Tăng cường xây dựng CSVC, TBDH

Để nâng cao chất lượng giờ dạy cho giáo viên thì yếu tố về CSVC không thể coi nhẹ. Đó là phòng học cho trẻ, các phòng chức năng, đồ dùng đồ chơi và trang thiết bị dạy học. Muốn đáp ứng được Ban giám hiệu nhà trường cần tham mưu tốt với địa phương để công tác xã hội hoá là của toàn dân. Huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho nhà trường.

Trong những năm qua nhà trường đã tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa phương xây dựng cơ sở vật chất cụ thể như sau: Nhà trường đã mở rộng được diện tích đất tại khu trung tâm và đang tiến hành xây dựng các phòng học và phòng chức năng, xây dựng vành lao, công trình vệ sinh ở các khu (Na Hem, Cái Cặn).       

Nhà trường đã huy động hội phụ nữ, hội CCB, đoàn thanh niên xã Hộ Đáp và đơn vị kết nghĩa đóng góp được tham gia lao động được 200 công.

Khi cơ sở vật chất trang thiết bị từng bước được nâng cấp đội ngũ cũng được cỏ vũ động viên về tinh thần, nên mỗi giáo viên đều hăng say về chuyện môn hơn

  Tháng 8/2013 đạt chuẩn phổ cập mầm non 5 tuổi và luôn duy trì giữ vững

9. Thực hiện tốt chế độ chính sách, đời sống vật chất tinh thần giáo viên

Là một cán bộ quản lý, tôi luôn tích cực tham mưu kịp thời với Hiệu trưởng nhà trường quan tâm tới các chế độ chính sách, quyền lợi của giáo viên. Bởi đời sống giáo viên được đảm bảo thì họ mới yên tâm công tác và làm việc mới có hiệu quả.

Sử dụng nguồn NSNN về chi trả lương, thưởng đúng, đủ, kịp thời.

Làm tốt công tác XHH giáo dục về chi tiền trông trưa cho giáo viên. Ngoài ra công đoàn nhà trường xây dựng quỹ thăm quan: Hàng năm đội ngũ giáo viên được tổ chức cho đi thăm quan các danh lam thắng cảnh của một số vùng miền. Hình thức picnic nho nhỏ vào thứ bảy chủ nhật cũng tạo nên sự thích thú cho giáo viên. Tạo cho giáo viên một sân chơi lành mạnh mọi người đoàn kết và hiểu nhau hơn.

10. Tổ chức tốt phong trào thi đua, khen thưởng, đánh giá giáo viên hàng năm theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non

Đây là biện pháp khá hiệu quả của các nhà quản lý giáo dục nói chung và mỗi nhà trường nói riêng. Ngay từ đầu năm học tôi đã kết hợp với Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch cho các phong trào thi đua chào mừng: 20/11; 22/12; 8/3; 26/3....Triển khai rộng rãi tới toàn thể giáo viên trong nhà trường. Sau mỗi đợt thi đua có đánh giá khen thưởng và rút kinh nghiệm kịp thời.

Việc đánh giá xếp loại giáo viên hàng năm theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non phải được thực hiện nghiêm túc, khách quan và dân chủ.

Công tác thi đua khen thưởng, đánh giá xếp loại giáo viên đã tạo ra một không khí thi đua sôi nổi trong nhà trường. Các đồng chí giáo viên tự đăng ký danh hiệu cho mình và tích cực phấn đấu để đạt được. Công tác này  góp phần tích cực giúp giáo viên hoàn thành nhiệm vụ năm học một cách xuất sắc.

Xin trân trọng cảm ơn !

 

 

 

 

 

 


Tổng số điểm của bài viết là: 75 trong 19 đánh giá
Click để đánh giá bài viết