Địa chỉ: Hộ Đáp Lục Ngạn Bắc Giang
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

BÀI GIẢNG BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG ĐỐI VỚI CBQL, GV, NV NĂM HỌC 2018-2019

Bài giảng về công tác bồi dưỡng chính trị tư tưởng đối với Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên tại trường mầm non

BÀI GIẢNG

BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG ĐỐI VỚI CBQL, GV, NV

NĂM HỌC 2018-2019

 

 

NỘI DUNG 1:  27 biểu hiện suy thoái, 'tự diễn biến', 'tự chuyển hóa'

27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng - chính trị, đạo đức - lối sống, và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ.

9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

1) Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

2) Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ hoạ theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

4) Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.

5) Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng.

6) Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu.

7) Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác.

8) Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh.

9) Vướng vào "tư duy nhiệm kỳ", chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích.

9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống

1) Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành.

3) Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

4) Mắc bệnh "thành tích", háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, "đánh bóng" tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; "chạy thành tích", "chạy khen thưởng", "chạy danh hiệu".

5) Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân.

6) Quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên...; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tuỳ tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động.

7) Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực.

8) Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.

9) Đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội.

 

9 biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ

1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện "đa nguyên, đa đảng".

2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", phát triển "xã hội dân sự". Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi "phi chính trị hoá" quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.

6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.

8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học-nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ suý cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hoá, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.

9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

 

NỘI DUNG 2: Quy định về đạo đức nhà giáo

Thứ nhất: Yêu nghề, mến trẻ

Phải thiết tha, hứng thú với nghề nghiệp, yêu mến trẻ, tôn trọng trẻ là tấm gương hàng ngày đối với chúng. Lòng yêu nghề là động lực giúp cho người giáo viên gắn bó với trẻ biểu hiện ở tấm lòng nhân hậu, vị tha, công bằng, tế nhị và chu đáo với trẻ. Đây là yếu tố quyết định đối với hoạt động sư phạm của người giáo viên mầm non. Đây là công việc có những khó khăn mang tính đặc thù, buộc người giáo viên nếu không yêu trẻ, mong muốn những gì tốt đẹp nhất cho trẻ thì khó vượt qua được những thử thách.

Thứ hai: Kiên nhẫn, biết tự kiềm chế

Người giáo viên biết kiên nhẫn có thể quan tâm, chia sẻ với trẻ những gì mà trẻ thổ lộ. Như vậy,chúng sẽ nhớ đến một cô giáo luôn động viên chúng hơn một cô giáo giỏi chuyên môn nhưng không biết thông cảm. Đối với trẻ trong giai đoạn mầm non, các hành xử của trẻ dựa trên bản năng, tức là trẻ làm theo những gì bản thân muốn làm, nhưng chưa hình thành suy nghĩ logic, là liệu việc làm đó lợi hay hại,trẻ sẽ làm những gì mà trẻ thích.Vì vậy, một người giáo viên kiên nhẫn, sẽ biết cách kiềm chế trước những hành động non trẻ đó và có những định hướng suy nghĩ đúng đắn cho trẻ.

Thứ ba: Có tinh thần trách nhiệm cao

Giáo viên phải làm thế nào để trẻ cảm thấy mình được yêu quý, được an toàn cảm nhận được cô là mẹ. Giáo viên mầm non lại phải tỉ mỉ để phát hiện ra những nhu cầu và đáp ứng nhu cầu của cá nhân trẻ ở mọi lúc mọi nơi.

Giáo viên cần phải phối hợp chặt chẽ thường xuyên làm cộng tác viên, tuyên truyền viên cho nhiều chương trình: phòng chống suy dinh dưỡng, phòng chống bệnh tật, nuôi con theo khoa học,…làm việc với tinh thần trách nhiệm cao.

Thứ tư: Phải có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết

Ngày nay sư phạm mầm non đòi hỏi các giáo viên phải có kĩ năng nghiệp vụ chuyên môn cần thiết để nuôi dạy trẻ tốt hơn.

Giáo viên mầm non là tập hợp tất cả những chữ “sĩ” .

Trước tiên là bác sĩ? Vì khi trở thành giáo viên mầm non, bắt buộc giáo viên phải có kiến thức sơ đẳng về y khoa như cách sơ cấp cứu, cách phòng và điều trị các bệnh thường gặp ở trẻ.Là một họa sĩ? Tức là phải biết chuẩn bị đồ dung đồ chơi cho bé như: chuẩn bị những bức tranh cắt,vẽ, xé dán trang trí lớp sinh động.Là một nghệ sĩ múa, kiêm biên đạo và ca sĩ: tức là Cô vừa hát,vừa múa vừa tự biên đạo cac động tác múa cho các con.

Bên cạnh đó, các cô giáo mầm non còn là những chuyên gia tâm lý của trẻ. Trong một lớp có 30 trẻ thì có 30 đặc điểm tâm lí khác nhau .Do đó,không nắm bắt được đặc điểm tâm lý của từng trẻ thì không thể đưa ra phương thức giáo dục trẻ đúng đắn được.

Thứ năm: Có khả năng ứng sử sư phạm khéo léo

          Trong môi trương mầm non các tình huống sư phạm xảy ra hết sức là đa dạng muôn hình, muôn vẻ liên quan đến mọi mối quan hệ giữa giáo viên và trẻ, giáo viên và phụ huynh khiến các cô giáo không khỏi lúng túng trong cách xử lý.Do vậy,cách ứng sử khéo léo của người giáo viên góp phần rất quan trọng việc hình thành nhân cách của trẻ, trẻ cần có một hình mẫu để noi theo.

 

NỘI DUNG 3: Những điều GV không được làm

Điều 40. Các hành vi giáo viên và nhân viên không được làm (Điều lệ trường Mầm non)

1. Các hành vi giáo viên không được làm:

a) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể trẻ em và đồng nghiệp;

b) Xuyên tạc nội dung giáo dục;

c) Bỏ giờ; Bỏ buổi dạy; Tùy tiện cắt xén chương trình nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục;

d) Đối xử không công bằng đối với trẻ em;

e) Ép buộc trẻ học thêm để thu tiền;

f) Bớt xén khẩu phần ăn của trẻ em; Làm việc riêng khi đang tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.

2. Các hành vi nhân viên không được làm:

a) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể trẻ em và đồng nghiệp;

b) Đối xử không công bằng đối với trẻ em;

c) Bớt xén khẩu phần ăn của trẻ em; Làm việc riêng khi đang tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em.

NỘI DUNG 4: Đạo đức GVMN trong giao tiếp ứng xử với đồng nghiệp, PHHS với trẻ

4.1. Ứng xử với các cơ quan, trường học khác, người đến giao dịch và làm việc, với PHHS

- Văn minh, lịch sự khi giao tiếp. Luôn thể hiện thái độ, cử chỉ, lời nói khiêm tốn, vui vẻ, bình tĩnh trong mọi tình huống. Không to tiếng, hách dịch không gây căng thẳng, bức xúc cho người đến làm việc; Không cung cấp tùy tiện các thông tin của nhà trường, của viên chức thuộc trường cho người khác biết  

- Phải nhanh chóng, chính xác khi giải quyết công việc.

- Thấu hiểu, chia sẻ và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, hướng dẫn tận tình, chu đáo cho người đến làm việc, lắng nghe, tiếp thu giải thích các ý kiến phản hồi từ PHHS

- Tôn trọng, lắng nghe và tiếp thu ý kiến đóng góp của người đến làm việc và PH học sinh. Trong khi thi hành công vụ, nếu phải để các cá nhân đến làm việc phải chờ đợi thì phải giải thích rõ lý do.

4.2. Ứng xử với đồng nghiệp

- Khiêm tốn, tôn trọng, chân thành, bảo vệ uy tín, danh dự của đồng nghiệp. Không ghen ghét, đố kỵ, lôi kéo bè cánh, phe nhóm gây mất đoàn kết nội bộ.

- Luôn có thái độ cầu thị, thẳng thắn, chân thành tham gia góp ý trong công việc, cuộc sống.

-  Hợp tác, giúp đỡ nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

4.3. Ứng xử với học sinh

- Tôn trọng, yêu thương, không được xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể trẻ em dưới mọi hình thức;

- Không được đối xử không công bằng đối với trẻ em; Không phân biệt kỳ thị

- Lắng nghe trẻ, luôn gần gũi với trẻ, không thờ ơ với trẻ, tạo nhiều cơ hội để trẻ được giao tiếp thân thiện, cởi mở, tích cực với cô

          - Nói chuyện với trẻ trong quá trình nuôi dạy. Thay đổi ngữ điệu, giọng nói cho phù hợp với nội dung và hoàn cảnh giao tiếp.

          * Cụ thể:

          - Gọi tên trẻ, khuyến khích trẻ xưng tên và gọi tên người khác khi giao tiếp.

          - Làm mẫu các hành vi giao tiếp để trẻ bắt chước kèm theo lời nói: chào, tạm biệt, cảm ơn, không đồng ý, đồng ý, tập trả lời khi nghe gọi tên, v.v…

          - Khuyến khích trẻ bắt chước phát âm các từ mới. Giúp trẻ mở rộng câu.

          - Sử dụng đồ dùng, đồ chơi làm phương tiện phát triển kỹ năng giao tiếp của trẻ: phát triển ngôn ngữ và phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (biểu lộ nét mặt, cử chỉ, điệu bộ khi chơi…).

         - Tập cho trẻ biết dùng câu hỏi và trả lời câu hỏi khi giao tiếp: Đâu? Con gì? Cái gì? Ai đây? Làm gì? (Kiên nhẫn đợi cho trẻ trả lời)

          - Cùng xem tranh, xem sách với trẻ: Hỏi han và chuyện trò về các nhân vật trong sách, tranh giúp trẻ bộc lộ cảm xúc bằng cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, v.v…

          - Cùng trẻ chơi các trò chơi dân gian, đọc các bài đồng dao… tạo sự thân thiết giữa cô và trẻ.

          - Dùng các chú rối trò chuyện với trẻ.

          - Tập cho trẻ giao tiếp với người lạ, với bạn để rèn tính cởi mở, mạnh dạn khi giao tiếp.

         Ở bậc học này, mọi hành vi tương tác của cô nuôi dạy đều có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Do đó, bên cạnh lòng yêu quý nghề nghiệp, yêu thương trẻ, nắm được kỹ năng giao tiếp và ứng xử “tâm lý”, thì người thầy chẳng những gạt hái nhiều thành quả sư phạm hữu hình, mà còn mang lại cho trẻ những giá trị sống cao đẹp, làm cẩm nang cho thành trình học tập và lớn khôn trọn đời của các em nữa.

 

 

                                                                                    Người thực hiện

 

 

                                                                                    Lê Thị Nguyệt

 

 


Tổng số điểm của bài viết là: 84 trong 23 đánh giá
Click để đánh giá bài viết